Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật

13/04/2013

Năm xuất bản: 2013

Chủ nghĩa hiện đại trong văn học nghệ thuật

Sự lãng quên chủ nghĩa hiện đại và nhầm lẫn giữa hiện đại với hậu hiện đại sẽ có nguy cơ làm rối loạn hệ thống lý luận văn nghệ, rối loạn các giá trị đã được thiết lập của chủ nghĩa hiện đại, rối loạn các tiêu chí đánh giá tác phẩm văn học nghệ thuật đương đại, rối loạn các tiêu chí tiếp nhận văn học nghệ thuật của người thưởng ngoạn. Vì thế, việc nhận thức lại chủ nghĩa hiện đại và giải quyết vấn đề “tồn tại hay không tồn tại chủ nghĩa hậu hiện đại” sẽ góp phần tái lập trật tự của các hệ thống kiến thức trong xã hội thông tin, tạo cơ sở để con người đi vào xã hội tri thức, một xã hội đề cao vai trò của tri thức, nhưng không phải là những tri thức nhằm mục đích thao túng và chi phối con người, mà chúng luôn phải là sản phẩm của con người và phục vụ con người. Đó cũng là mục đích nhân văn của tự do sáng tạo trong khoa học, đồng thời cũng là mục đích của cuốn chuyên luận mới xuất bản của PGS.TS. Nguyễn Văn Dân (Nhà xuất bản Khoa học xã hội, 2013, 348 trang).

Trong lịch sử văn học nghệ thuật, các trào lưu hiện đại chủ nghĩa xuất hiện từ đầu thế kỷ XX đã được coi là một cuộc cách mạng trong văn học nghệ thuật và thường được gọi là “phong trào nghệ thuật tiên phong của thế kỷ XX”. Phong trào đó bao gồm các trào lưu diễn ra gần như đồng thời: chủ nghĩa dã thú, chủ nghĩa biểu hiện, chủ nghĩa vị lai, chủ nghĩa lập thể, chủ nghĩa Đađa, chủ nghĩa siêu thực, chủ nghĩa trừu tượng, phong cách quốc tế trong kiến trúc... Giai đoạn từ đó cho đến nay được gọi là giai đoạn của nghệ thuật hiện đại. Cuốn sách cũng bàn đến sự tiếp nối của phong trào nghệ thuật tiên phong trong văn học, được thể hiện rõ nét trong trào lưu tiểu thuyết dòng chảy ý thức và trong loại hình văn học phi lý. Và cũng từ đó, bộ mặt văn học nghệ thuật thế giới đã trở nên vô cùng phong phú và đa dạng. Góp phần làm nên bộ mặt phong phú và đa dạng đó có sự tác động tích cực của các trào lưu nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa. Tuy nhiên, trong số các trào lưu hiện đại đó cũng có những biểu hiện cực đoan gây tác động tiêu cực đến văn học nghệ thuật thế giới sau này.

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về các trào lưu văn học nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa, đã chỉ ra được những đặc trưng và đóng góp của chúng cho văn học nghệ thuật thế giới trong giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến những năm đầu thế kỷ XXI này. Có những công trình phê bình đã xuất hiện đồng thời với sự ra đời của các trào lưu hiện đại. Những công trình đó đã đóng vai trò là các bản tuyên ngôn của các trào lưu, và thực tế là có nhiều công trình đã công khai lấy tên là “bản tuyên ngôn”, nhiều trào lưu có tới 4-5 bản tuyên ngôn. Có thể nói, trong lịch sử nghệ thuật, chưa bao giờ có nhiều tuyên ngôn dành cho các trào lưu như thế. Điều đó chứng tỏ một quyết tâm đổi mới của phong trào nghệ thuật tiên phong.

Ở Việt Nam, các thành tựu văn học nghệ thuật hiện đại của thế giới cũng đã được giới thiệu. Nhưng nhìn chung ở nước ta, việc đánh giá các trào lưu hiện đại chủ nghĩa vẫn chưa có sự nhất quán và thỏa đáng. Trước thời Đổi Mới, các trào lưu hiện đại chủ nghĩa thường bị coi là những hiện tượng văn nghệ “tư sản suy đồi”, thậm chí “phản động”. Điều này một phần là do ảnh hưởng của chủ nghĩa giáo điều. Đến những năm sau giải phóng miền Nam, tình hình giới thiệu văn học nghệ thuật hiện đại phương Tây bắt đầu có dấu hiệu đổi mới. Chúng ta bắt đầu giới thiệu những quan điểm và nhận định mang tính khách quan hơn. Tuy nhiên, ở giai đoạn này, sự công nhận dành cho nghệ thuật hiện đại vẫn chưa được thực hiện một cách triệt để.

Hạn chế về nhận thức trên đây chỉ được khắc phục một cách cơ bản sau ngày đất nước tiến hành công cuộc Đổi Mới. Những công trình sau 1986 đã ghi nhận thành tựu của nghệ thuật hiện đại. Tuy nhiên, đó vẫn là một sự ghi nhận có điều kiện. Song đến đây lại xuất hiện một hạn chế khác: Đó là việc giới thiệu thường thiên về sao chép các cuốn sách của các tác giả phương Tây. Mặt khác, các cuốn sách vẫn chỉ dừng lại ở mức độ giới thiệu sơ lược, thiếu một cái nhìn am hiểu của những người có chuyên môn, chính vì thế mà giá trị khoa học của chúng rất bị hạn chế, và tác động của chúng đối với xã hội cũng không đáng kể.

Mặc dù ngày nay chúng ta đã có cái nhìn đổi mới về chủ nghĩa hiện đại nói chung và các trào lưu hiện đại chủ nghĩa của phong trào tiên phong nói riêng, nhưng những di căn của chủ nghĩa giáo điều trước đây đôi khi vẫn để lại những ý kiến e ngại khi đánh giá chúng, chính vì vậy mà cuốn sách cho rằng chúng ta cần có cái nhìn khách quan và có hệ thống về các trào lưu trường phái trong văn học nghệ thuật nói chung và về các trào lưu hiện đại chủ nghĩa nói riêng. Việc xác định đặc trưng và tên gọi của các trào lưu cần được thực hiện một cách thống nhất. Những người biên soạn sách lý luận và phê bình văn học nghệ thuật cần có sự hợp tác trong việc xây dựng một hệ thống thuật ngữ, khái niệm, lý thuyết và các trào lưu. Cần có sự nhất quán trong việc gọi tên các trào lưu, nếu có thay đổi thì cần có một sự lý giải rõ ràng chứ không tùy tiện phát ngôn mỗi lúc một kiểu. Việc làm tùy tiện như thế sẽ có nguy cơ biến một lĩnh vực vô cùng nghiêm túc thành một trò chơi ngẫu hứng.

Theo hướng đó, cuốn sách góp phần đánh giá lại một cách nghiêm túc các trào lưu hiện đại chủ nghĩa. Nó cho thấy các trào lưu hiện đại chủ nghĩa, ngoại trừ một số động thái nổi loạn cực đoan, đã có những giá trị tích cực không nhỏ trong tiến trình phát triển của văn học nghệ thuật. Cuốn sách cũng cho thấy các trào lưu đó đã được định hình và được xác định danh tính cùng vị trí rõ ràng và ổn định trong lịch sử văn học nghệ thuật, những danh tính và vị trí không dễ gì bị phủ nhận chỉ vì một sự dễ dãi vô cớ.

Việc đánh giá đó sẽ giúp san lấp lỗ hổng về chủ nghĩa hiện đại. Cái lỗ hổng này một phần là do trước đây chúng ta đã coi tất cả các trào lưu hiện đại chủ nghĩa là “văn nghệ tư sản phản động suy đồi”, nên đã không giới thiệu và phổ biến thường xuyên cho công chúng, đặc biệt là cho lớp trẻ. Chính vì vậy mà khi xuất hiện khái niệm chủ nghĩa hậu hiện đại, nhiều người đã quên mất rằng từ lâu đã tồn tại một khái niệm “chủ nghĩa hiện đại” hoàn toàn có khả năng thỏa mãn mọi yêu cầu mà vấn đề “chủ nghĩa hậu hiện đại” đang đặt ra. Nếu chúng ta thực hiện tốt việc giới thiệu chủ nghĩa hiện đại, thì có thể tránh được những ngộ nhận không đáng có về cái gọi là “chủ nghĩa hậu hiện đại” đang lan tràn trên các diễn đàn văn nghệ hiện nay.

Cuốn sách được kết cấu thành ba chương, ngoài phần mở đầu và kết luận. Trong chương một, tác giả bàn về cuộc khủng hoảng xã hội và tinh thần của phương Tây cuối thế kỷ XIX và sự ra đời của phong trào nghệ thuật tiên phong thế kỷ XX. Trong chương này chúng ta sẽ hình dung được bối cảnh lịch sử sự ra đời của nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa dưới tên gọi chung là phong trào tiên phong hay nghệ thuật tiên phong. Bản chất và đặc trưng của nghệ thuật tiên phong cũng được tác giả làm rõ ở chương này. Theo tác giả, bản chất chung của phong trào nghệ thuật tiên phong – tức nghệ thuật hiện đại chủ nghĩa – là: Khước từ chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên, khước từ chủ nghĩa lãng mạn, chủ nghĩa ấn tượng, và nói chung là khước từ mọi quy tắc, mọi quy phạm của nghệ thuật truyền thống và nghệ thuật chính thống. Ở đây, chủ nghĩa hiện thực, chủ nghĩa tự nhiên (trong đó có chủ nghĩa tả thực của Italia) và chủ nghĩa lãng mạn có thể được coi là nghệ thuật truyền thống của thế kỷ XIX – một thế kỷ của cách mạng tư sản; còn chủ nghĩa ấn tượng được coi là nghệ thuật chính thống của xã hội tư sản sau khi giai cấp tư sản phương Tây giành được chính quyền và phản bội lại giai cấp vô sản. Chủ nghĩa ấn tượng có thể được coi là loại nghệ thuật xoa dịu và ru ngủ của giai cấp tư sản sau cách mạng, một loại nghệ thuật xa rời hiện thực, đặc biệt là hiện thực của đời sống nhân dân. Đây chính là những đối tượng bị công kích của các chủ nghĩa hiện đại thuộc phong trào tiên phong. Còn đặc trưng của chủ nghĩa hiện đại tiên phong bao gồm bốn yếu tố chính: 1. tìm về nơi hoang dã; 2. về với huyền thoại nguyên thủy; 3. tìm đến miền hoang tưởng siêu thực; 4. tiếp thu khoa học kỹ thuật hiện đại. Đây là những nhận định xác đáng và là đóng góp riêng của tác giả.

Trong chương hai, tác giả giới thiệu kỹ sự ra đời và phát triển của các trào lưu hiện đại chủ nghĩa. Đó là các trào lưu biểu hiện, vị lai, lập thể, Đađa, siêu thực, trừu tượng, phong cách quốc tế trong kiến trúc, tiểu thuyết dòng chảy ý thức, văn học phi lý.

Chương ba bàn về sự ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại trên thế giới và ở Việt Nam, đồng thời đề cập đến vấn đề chủ nghĩa hậu hiện đại đang thu hút sự quan tâm của dư luận hiện nay. Ở đây, tác giả đã cho thấy rõ những ảnh hưởng của chủ nghĩa hiện đại vẫn còn hiện diện trong văn học nghệ thuật cho đến tận ngày nay, đồng thời cũng thẳng thắn đưa ra những kiến giải của riêng mình về chủ nghĩa hậu hiện đại.

Cuối cùng tác giả kết luận rằng, sự lãng quên chủ nghĩa hiện đại và nhầm lẫn giữa hiện đại với hậu hiện đại sẽ có nguy cơ làm rối loạn hệ thống lý luận văn nghệ, rối loạn các giá trị đã được thiết lập của chủ nghĩa hiện đại, rối loạn các tiêu chí đánh giá tác phẩm văn học nghệ thuật đương đại, rối loạn các tiêu chí tiếp nhận văn học nghệ thuật của người thưởng ngoạn. Vì thế, việc nhận thức lại chủ nghĩa hiện đại và giải quyết vấn đề “tồn tại hay không tồn tại chủ nghĩa hậu hiện đại” sẽ góp phần tái lập trật tự của các hệ thống kiến thức trong xã hội thông tin, tạo cơ sở để con người đi vào xã hội tri thức, một xã hội đề cao vai trò của tri thức, nhưng không phải là những tri thức nhằm mục đích thao túng và chi phối con người, mà chúng luôn phải là sản phẩm của con người và phục vụ con người. Đó cũng là mục đích nhân văn của tự do sáng tạo trong khoa học, đồng thời cũng là mục đích của cuốn sách này. Có thể nói, đây là cuốn sách đầu tiên ở Việt Nam bàn luận một cách chi tiết và có hệ thống về chủ nghĩa hiện đại, góp phần giải quyết những vấn đề truyền thống và hiện tại của lý luận phê bình văn nghệ.

 

-Bạch Trà-