Kiểm toán nhà nước - Thiết chế kiểm soát quyền lực nhà nước ở Trung Quốc hiện nay

30/07/2022

1. Sơ lược quá trình phát triển của Kiểm toán nhà nước ở Trung Quốc

 

Trên cơ sở quy định tại Hiến pháp, năm 1983, Trung Quốc thành lập Văn phòng Kiểm toán Nhà nước (KTNN), sau đó, một loạt cơ quan kiểm toán ở địa phương các cấp cũng được thành lập. Năm 1994, Trung Quốc thông qua Luật Kiểm toán. Năm 2006, Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc thông qua quyết định sửa đổi Luật Kiểm toán năm 1994. Năm 2010, Quốc vụ viện Trung Quốc sửa đổi thông qua Điều lệ thực thi Luật Kiểm toán, Tổng KTNN Trung Quốc cũng hội luận thông qua Quy tắc hoạt động kiểm toán. Ngày 23/10/2021, Ủy ban Thường vụ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc Trung Quốc đã biểu quyết thông qua Luật Kiểm toán sửa đổi. Qua gần 40 năm xây dựng và trưởng thành, hoạt động KTNN ở Trung Quốc đã được thể chế hóa. Cơ sở pháp lý căn bản cho công tác KTNN ở Trung Quốc đã được thiết lập thông qua các văn bản Hiến pháp, Luật Kiểm toán, Điều lệ thực thi Luật Kiểm toán, Quy tắc hoạt động kiểm toán…

 

2. Địa vị pháp lý và chức năng của cơ quan Kiểm toán nhà nước

 

Theo Điều 91 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa: cơ quan kiểm toán là cơ quan được Hiến pháp quy định; KTNN là cơ quan đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Thủ tướng - người đứng đầu Quốc vụ viện, cũng là người đứng đầu hệ thống hành chính nhà nước; cơ quan kiểm toán là cơ quan thực hiện giám sát kiểm toán độc lập, không bị chi phối, can thiệp trái pháp luật. Quy định này đã thể hiện vị trí pháp lý của cơ quan KTNN trong tổ chức bộ máy nhà nước ở Trung Quốc.

 

Cũng theo Điều 91 Hiến pháp nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, chức năng chủ yếu của cơ quan KTNN ở Trung Quốc là giám sát, kiểm tra đối với hoạt động thu chi tài chính của quốc gia. Điều 1 và Điều 2 Luật Kiểm toán Trung Quốc khẳng định, chức năng cụ thể của cơ quan kiểm toán là giám sát, kiểm toán về tính xác thực, hợp pháp và hiệu quả của hoạt động thu chi tài chính của các cơ quan, tổ chức. Bao quát hơn về các mặt kinh tế - xã hội và chính trị - xã hội, chức năng của KTNN là “duy trì trật tự kinh tế tài chính quốc gia, nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn vốn tài chính, thúc đẩy chính phủ liêm khiết, đảm bảo sự phát triển lành mạnh của xã hội và nền kinh tế quốc dân.”

 

3. Tổ chức và hoạt động của cơ quan Kiểm toán nhà nước

 

3.1. Nguyên tắc tổ chức và hoạt động của Kiểm toán nhà nước

 

Là cơ quan thuộc bộ máy nhà nước, KTNN được tổ chức và hoạt động theo các nguyên tắc cơ bản là tuân thủ sự lãnh đạo của Đảng, thượng tôn pháp luật… Với tư cách là cơ quan có tính đặc thù, KTNN có các nguyên tắc riêng được xác định trong Luật Kiểm toán: (i) Trong tương quan với các cơ quan hành chính nhà nước khác cùng hệ thống, KTNN độc lập trong hoạt động giám sát kiểm toán. (ii) KTNN đặt dưới sự lãnh đạo tập trung thống nhất của Thủ tướng và chịu sự lãnh đạo song trùng trực thuộc. (iii) Cơ quan kiểm toán không được can thiệp vào hoạt động quản lý và sản xuất kinh doanh bình thường của đơn vị được kiểm toán và cơ quan liên quan. (iv) Cán bộ kiểm toán có mối liên hệ lợi ích với đơn vị được kiểm toán, sự việc kiểm toán không tham gia vào hoạt động kiểm toán đó. (v) Cơ quan kiểm toán và cán bộ kiểm toán có nghĩa vụ bảo mật thông tin về bí mật quốc gia, bí mật doanh nghiệp, bí mật hoạt động cũng như đời tư cá nhân mà họ nắm được trong quá trình thực thi nhiệm vụ.

 

3.2. Cơ cấu tổ chức của cơ quan Kiểm toán nhà nước

 

Luật Kiểm toán Trung Quốc quy định, Quốc vụ viện và chính quyền địa phương cấp huyện trở lên đều thành lập cơ quan kiểm toán: Ở Trung ương, Quốc vụ viện thành lập Văn phòng Kiểm toán, Tổng KTNN là thủ trưởng của Văn phòng Kiểm toán. Ở địa phương, cơ quan kiểm toán do chính quyền địa phương các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố cấp khu, châu tự trị, huyện, huyện tự trị, thành phố cấp huyện thành lập. Trong trường hợp cần thiết, khi được cơ quan hành chính cùng cấp phê chuẩn, cơ quan kiểm toán có thể thành lập cơ quan đại diện thuộc phạm vi quản lý trực tiếp của mình.

 

3.3. Đối tượng, phạm vi giám sát kiểm toán

 

Căn cứ quy định của Luật Kiểm toán, đối tượng, phạm vi giám sát kiểm toán của cơ quan KTNN có thể chia thành bốn nhóm: (1) Giám sát kiểm toán việc chấp hành ngân sách và quyết toán; (2) Giám sát kiểm toán hoạt động thu chi tài chính của Ngân hàng Trung ương do Văn phòng kiểm toán thực hiện; (3) Giám sát kiểm toán liên quan đến sử dụng tài chính công hoặc tài chính do Nhà nước quản lý; (4) Giám sát kiểm toán việc thực thi chính sách kinh tế - xã hội quan trọng của quốc gia.

 

3.4. Thẩm quyền và thủ tục kiểm toán

 

Theo Luật Kiểm toán, nội dung cơ bản của các quy định về thẩm quyền và thủ tục kiểm toán là: (1) Dưới sự lãnh đạo của người đứng đầu cơ quan hành chính các cấp và cơ quan kiểm toán cấp trên, cơ quan kiểm toán có thẩm quyền tiến hành kiểm toán. (2) Cơ quan kiểm toán xác định phạm vi thẩm quyền kiểm toán dựa trên mối quan hệ tài chính và liên kết tài chính của đơn vị được kiểm toán hoặc mối quan hệ giám sát và quản lý các nguồn lực và tài sản thuộc sở hữu nhà nước. (3) Cơ quan kiểm toán thành lập tổ kiểm toán theo các hạng mục kiểm toán được xác định bởi kế hoạch dự án kiểm toán đã được phê duyệt và gửi thông báo cho bên được kiểm toán trước khi kiểm toán ba ngày. (4) Cơ quan kiểm toán có thể yêu cầu các cơ quan công an, tài chính, tài nguyên, môi trường, hải quan, thuế vụ, quản lý thị trường… hỗ trợ thực hiện nhiệm vụ kiểm toán. Các cơ quan này có trách nhiệm hợp tác theo quy định của pháp luật…

 

4. Các quan điểm tiếp tục cải cách Kiểm toán nhà nước ở Trung Quốc

 

Giới chính trị, học giả Trung Quốc đã đưa ra 7 đề xuất về cải cách, hoàn thiện cơ chế giám sát và kiểm soát kinh tế chuyên trách trong hệ thống hành pháp: (i) mở rộng kiểm toán đối với toàn bộ quá trình vận hành tài chính và mọi hoạt động thu chi sử dụng ngân sách nhà nước; (ii) việc kiểm toán trách nhiệm kinh tế tài chính của cơ quan KTNN ở địa phương nên được giao cho cơ quan KTNN cấp trên; (iii) cần có cơ chế để cơ quan kiểm toán đánh giá, bình xét cán bộ có trách nhiệm trong quá trình giám sát kiểm toán, đặc biệt là có biện pháp xử lý đối với những người có sai phạm, qua đó thúc đẩy cơ chế trách nhiệm, xây dựng chính phủ trách nhiệm; (iv) đẩy mạnh công khai các hoạt động vận hành quyền lực cũng như các kết quả kiểm toán; (v) quản lý chặt đội ngũ cán bộ thực hiện chức năng kiểm toán; (vi) tăng cường tần suất kiểm toán; (vii) đẩy mạnh yêu cầu sửa chữa đối với các sai phạm phát hiện trong hoạt động kiểm toán.

 

 

(Toàn văn bài viết đã được đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 6/2022, trang 10-20).

 

 

 


Các tin đã đưa ngày: