Quan điểm về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng Cộng sản Việt Nam

05/08/2021

 

1. Quan điểm của Đảng về xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế qua các kỳ Đại hội

 

Đại hội IV (năm 1976) của Đảng Cộng sản Việt Nam chủ trương đẩy mạnh công nghiệp hóa, ưu tiên phát triển công nghiệp nặng một cách hợp lý trên cơ sở phát triển nông nghiệp và công nghiệp nhẹ. Đại hội xác định, trong khi dựa vào sức mình là chính để phát huy tối đa năng lực sản xuất hiện có thì Việt Nam cũng cần tăng cường quan hệ kinh tế với các nước xã hội chủ nghĩa và các nước khác.

 

Đại hội VIII (năm 1996) khẳng định: Giữ vững độc lập, tự chủ đi đôi với mở rộng hợp tác quốc tế, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ đối ngoại; dựa vào nguồn lực trong nước là chính, đồng thời tranh thủ tối đa nguồn lực bên ngoài; xây dựng nền kinh tế mở, hội nhập với khu vực và thế giới; lấy hiệu quả kinh tế - xã hội là tiêu chuẩn cơ bản để xác định phương án phát triển, lựa chọn dự án đầu tư và công nghệ.

 

Đại hội IX (năm 2001) chủ trương: Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở thành một nước công nghiệp; ưu tiên phát triển lực lượng sản xuất, đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp theo định hướng xã hội chủ nghĩa; phát huy cao độ nội lực, đồng thời tranh thủ nguồn lực bên ngoài và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế để phát triển nhanh, có hiệu quả và bền vững.

 

Tại Đại hội X (năm 2006), Đảng chủ trương chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế, hội nhập sâu hơn và đầy đủ hơn với các thể chế kinh tế toàn cầu, khu vực và song phương, đưa các quan hệ quốc tế đã được thiết lập vào chiều sâu, ổn định, bền vững.

 

Đại hội XI (năm 2011) xác định phương hướng giải quyết mối quan hệ giữa xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và tích cực, chủ động hội nhập nhằm tạo dựng sức mạnh dân tộc với tính chất là yếu tố quyết định; tranh thủ yếu tố ngoại lực và thời đại với vai trò là yếu tố quan trọng.

 

Tại Đại hội XII (năm 2016), Đảng tiếp tục khẳng định: Hội nhập kinh tế là trọng tâm, hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế; hội nhập là quá trình vừa hợp tác, vừa đấu tranh, chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu, bất lợi.

 

Tại Đại hội XIII (năm 2021), việc Đảng xác định “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế” thể hiện sự nhất quán, kế thừa và phát triển một cách đúng đắn, sáng tạo chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ phù hợp với tình hình mới khi thế giới “đang trải qua những biến động to lớn, diễn biến rất nhanh chóng, phức tạp, khó dự báo”; kinh tế thế giới lâm vào khủng hoảng, suy thoái nghiêm trọng và có thể còn kéo dài do tác động của đại dịch Covid-19; cạnh tranh kinh tế, chiến tranh thương mại, tranh giành thị trường, các nguồn tài nguyên, công nghệ, nhân lực chất lượng cao, thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước ngày càng quyết liệt.

 

2. Quan điểm, yêu cầu và định hướng giải pháp nhằm “xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế” trong Văn kiện Đại hội XIII của Đảng

 

Từ thực tiễn xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước những năm qua, bên cạnh những thành tựu đạt được cùng những tồn tại, hạn chế, bất cập, Đại hội XIII đã chỉ rõ những yêu cầu và định hướng giải pháp để xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ và nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế. Một là giữ vững độc lập, tự chủ trong việc xác định chủ trương, đường lối, chiến lược phát triển kinh tế đất nước. Hai là phát triển doanh nghiệp Việt Nam lớn mạnh, nòng cốt của kinh tế đất nước; giữ vững các cân đối lớn, bảo đảm an ninh kinh tế, không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế quốc gia. Ba là đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác.

 

Bốn là nâng cao khả năng chống chịu của nền kinh tế trước tác động tiêu cực từ những biến động của kinh tế thế giới, khu vực; chủ động hoàn thiện hệ thống phòng vệ để bảo vệ nền kinh tế, doanh nghiệp, thị trường trong nước phù hợp với các cam kết quốc tế. Năm là thực hiện nhiều hình thức hội nhập kinh tế quốc tế với các lộ trình linh hoạt, phù hợp với điều kiện, mục tiêu của đất nước từng giai đoạn. Sáu là hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với những điều ước quốc tế và cam kết quốc tế mà Việt Nam đã ký kết. Bảy là tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ am hiểu sâu về luật pháp quốc tế, thương mại, đầu tư quốc tế, có khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, trước hết là cán bộ trực tiếp làm công tác hội nhập kinh tế quốc tế, giải quyết tranh chấp quốc tế.

 

Để hiện thực hóa chủ trương xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế theo quan điểm Đại hội XIII, các cấp, các ngành, mỗi doanh nghiệp và người dân cần nâng cao nhận thức, trách nhiệm, năng lực, trình độ về mọi mặt, đáp ứng yêu cầu đặt ra đối với từng ngành, từng lĩnh vực, nhất là yêu cầu phát triển bền vững và khát vọng phát triển đất nước Việt Nam phồn vinh, hạnh phúc.

 

 

(Toàn văn bài viết đã được đăng trên Tạp chí Thông tin Khoa học xã hội số 6/2021, trang 3-8).

 

 

 


Các tin đã đưa ngày: