Tuyên bố chung về việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch
Nhận lời mời của Nhà Vua Vương quốc Đan Mạch Frederik X, đồng chí Tô Lâm, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thăm cấp Nhà nước tới Vương quốc Đan Mạch từ ngày 19-21 tháng 10 năm 2026 nhân dịp hai nước kỷ niệm 55 năm thiết lập quan hệ ngoại giao.
Nhân chuyến thăm cấp Nhà nước này, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam, Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch, Bà Mette Frederiksen nhấn mạnh rằng kể từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1971, Quan hệ Đối tác Toàn diện năm 2013 và Quan hệ Đối tác Chiến lược Xanh năm 2023, Việt Nam và Đan Mạch đã phát triển quan hệ hữu nghị và hợp tác nhiều mặt trên cơ sở tin cậy, bình đẳng và tôn trọng lẫn nhau.
Trên cơ sở đó, và trước tiềm năng phát triển mạnh mẽ hơn nữa của hai nước, hai nhà lãnh đạo nhất trí nâng cấp quan hệ Việt Nam - Đan Mạch lên Đối tác Chiến lược Toàn diện, vì lợi ích của cả hai quốc gia.
Tổng Bí thư, Chủ tịch
nước Tô Lâm và Thủ tướng Đan Mạch Mette Frederiksen
trao Tuyên bố chung về
việc thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược toàn diện
giữa nước Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam và Đan Mạch
(Ảnh: TTXVN)
1. Hai bên nhấn mạnh lợi ích chung, sự tôn trọng, cùng các mối
liên hệ lịch sử là trọng tâm của quan hệ đối tác song phương ngày càng phát
triển. Hai bên tái khẳng định cam kết làm sâu sắc hơn nữa hợp tác trong các
lĩnh vực mang lại lợi ích thiết thực cho cả hai quốc gia và đóng góp vào hòa
bình, ổn định, hợp tác và thịnh vượng.
Quan hệ chính trị
2. Hai bên hướng tới củng cố hợp tác chính trị và hiểu biết lẫn
nhau thông qua việc tăng cường hơn nữa các chuyến thăm và tiếp xúc cấp cao song
phương trên tất cả các kênh giữa các cơ quan Đan Mạch và Việt Nam, trong
đó phía Việt Nam bao gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước, Chính phủ, Quốc hội
và chính quyền địa phương.
3. Quốc hội hai nước, trong phạm vi thẩm quyền của mỗi bên, hướng
tới đẩy mạnh: (i) trao đổi đoàn và tiếp xúc song phương, đặc biệt giữa các Lãnh
đạo, đại biểu, ủy ban, nhóm nghị sĩ hữu nghị của hai Quốc hội, bao gồm các nghị
sĩ nữ và nghị sĩ trẻ; (ii) chia sẻ kinh nghiệm trong các hoạt động lập pháp
nhằm xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện thuận lợi cho hợp
tác song phương; (iii) phối hợp trong việc giám sát và thúc đẩy thực hiện hiệu
quả các thỏa thuận song phương; (iv) tiếp xúc, tham vấn, hợp tác và ủng hộ lẫn
nhau tại các diễn đàn nghị viện đa phương cũng như về các vấn đề khu vực và
toàn cầu mà hai bên cùng quan tâm.
4. Hai bên tái khẳng định tiếp tục duy trì cơ chế Tham vấn chính
trị giữa hai Bộ Ngoại giao nhằm tăng cường tin cậy chiến lược và hiểu biết lẫn
nhau thông qua trao đổi quan điểm về các vấn đề khu vực, quốc tế hai bên cùng
quan tâm và thúc đẩy hợp tác song phương trong thương mại, khoa học - công
nghệ, đổi mới sáng tạo, quốc phòng - an ninh, giáo dục, chuyển đổi xanh, nông
nghiệp, y tế, thống kê, văn hóa, giao lưu nhân dân và các lĩnh vực cùng quan
tâm khác, khi có thể.
5. Hai bên nhất trí cần nghiên cứu và triển khai các biện pháp nhằm
tạo thuận lợi hơn nữa cho việc giao lưu và đi lại của công dân hai nước, ưu
tiên đàm phán và ký kết thỏa thuận miễn thị thực đối với người mang hộ chiếu
ngoại giao chứa dữ liệu sinh trắc học.
6. Hai bên hoan nghênh việc thành lập Tổng Lãnh sự quán Đan Mạch
tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hợp tác quốc tế, khu vực và ASEAN
7. Hai bên cam kết tăng cường hợp tác và chia sẻ quan điểm tại các
tổ chức, cơ chế đa phương và các tổ chức, cơ chế liên quan thông qua tăng cường
trao đổi thông tin và kinh nghiệm về các vấn đề toàn cầu và khu vực như luật
pháp quốc tế, bảo vệ quyền con người, phát triển khu vực và toàn cầu, bình đẳng
giới, các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống, biến đổi khí
hậu, phát triển bền vững, không phổ biến vũ khí hạt nhân, tội phạm xuyên quốc
gia, an toàn và an ninh hàng hải, an ninh năng lượng, an ninh mạng, an ninh
lương thực và nguồn nước, an toàn công cộng, y tế công cộng và các lĩnh vực
liên quan khác.
8. Hai bên tái khẳng định cam kết ủng hộ chủ nghĩa đa phương, tôn
trọng luật pháp quốc tế, với Liên hợp quốc giữ vai trò trung tâm trong giải
quyết các vấn đề toàn cầu và khu vực; thúc đẩy và đưa ra các giải pháp hòa bình
cho các tranh chấp quốc tế, phù hợp với Hiến chương Liên hợp quốc và luật pháp
quốc tế.
9. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc duy trì hòa bình, an
ninh, ổn định, an toàn và tự do hàng hải và hàng không, cũng như thương mại
không bị cản trở trên các vùng biển và đại dương, bao gồm Biển Đông, phù hợp
với luật pháp quốc tế, đặc biệt là Công ước Liên hợp quốc về Luật Biển năm 1982
(UNCLOS 1982). Hai bên tái khẳng định tầm quan trọng của UNCLOS 1982, văn kiện
xác lập khuôn khổ pháp lý toàn diện mà mọi hoạt động trên biển và đại dương
phải tuân theo. Hai bên ủng hộ giải quyết tranh chấp bằng biện pháp hòa bình
phù hợp với luật pháp quốc tế, không đe dọa hoặc sử dụng vũ lực.
10. Hai bên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc thực hiện đầy đủ và
hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002. Hai bên cũng hoan
nghênh những tiến triển tiếp theo hướng tới sớm hoàn tất một Bộ Quy tắc ứng xử
hiệu quả và thực chất, phù hợp với luật pháp quốc tế, bao gồm UNCLOS 1982. Về
vấn đề này, Đan Mạch bày tỏ sẵn sàng, khi có thể, hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN
trong thúc đẩy kết nối hàng hải, cũng như an toàn và an ninh hàng hải.
11. Đan Mạch ghi nhận vai trò và tăng cường quan hệ với ASEAN, coi
ASEAN là một thị trường quan trọng đối với thương mại và đầu tư, đồng thời là
một tổ chức ngày càng quan trọng ở cấp khu vực và toàn cầu. Đan Mạch bày tỏ ủng
hộ vai trò trung tâm của ASEAN và tái khẳng định cam kết hỗ trợ các nỗ lực của
ASEAN trong việc hiện thực hóa Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN 2045.
12. Hai bên: (i) nhất trí tiếp tục tăng cường Quan hệ Đối tác Đối
thoại theo lĩnh vực ASEAN-Đan Mạch cũng như Quan hệ Đối tác Chiến lược
ASEAN-EU, bao gồm trong các lĩnh vực ưu tiên chung như chuyển đổi xanh, năng
lượng, kinh tế số, công nghệ và đổi mới sáng tạo; (ii) hoan nghênh hợp tác
chung trong tăng cường chia sẻ kinh nghiệm về tìm kiếm-cứu nạn, hỗ trợ nhân đạo
và ứng phó thiên tai trong ASEAN và các khuôn khổ đa phương phù hợp khác; (iii)
ghi nhận tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực trong
lĩnh vực hàng hải.
13. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của việc tôn trọng, thúc đẩy và
bảo vệ quyền con người phù hợp với các điều ước quốc tế về quyền con người mà
hai bên là thành viên và vai trò của Đối thoại Nhân quyền thường niên
Việt Nam-EU, và Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR) thuộc Hội đồng Nhân
quyền Liên hợp quốc.
Hợp tác thương mại và đầu tư
14. Hai bên tái khẳng định quyết tâm chung thúc đẩy thương mại, đầu
tư song phương và tháo gỡ các rào cản nhằm tăng kim ngạch thương mại và vốn đầu
tư tại Việt Nam và Đan Mạch; đồng thời cam kết bảo vệ và thúc đẩy hệ thống
thương mại quốc tế mở, dựa trên luật lệ, với WTO giữ vai trò trung tâm, và thúc
đẩy các chuỗi giá trị hiệu quả, tinh thần khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, đồng
thời bảo đảm cải thiện khả năng tiếp cận thị trường phù hợp với Hiệp định
Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) và quan hệ đối tác giữa Liên minh
châu Âu và Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương
(CPTPP).
15. Hai bên cam kết tiếp tục tăng cường hợp tác về thương mại, đầu
tư, tài chính thông qua nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực, kết
nối chuỗi cung ứng, đặc biệt trong các lĩnh vực lấy tính bền vững làm định
hướng, bao gồm nhưng không giới hạn ở năng lượng tái tạo, an ninh năng lượng,
sử dụng năng lượng hiệu quả, sản xuất, chế biến và công nghiệp công nghệ cao,
thực phẩm và nông nghiệp, các giải pháp sinh học và công nghệ sinh học, giao
thông vận tải và logistics, vận tải biển xanh, kinh tế biển, công nghiệp và
hàng không, số hóa, y tế và giáo dục.
16. Hai bên thúc đẩy và khuyến khích: (i) doanh nghiệp Việt Nam
và Đan Mạch tạo thuận lợi cho các hoạt động đầu tư mạnh mẽ hơn vào thị trường
của nhau, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao và có giá trị gia tăng cao,
đồng thời thông qua tăng cường mạng lưới nhà cung cấp của Việt Nam; (ii)
các tổ chức ngành nghề của Việt Nam và Đan Mạch tham gia các chương trình,
triển lãm xúc tiến thương mại được tổ chức tại thị trường của nhau nhằm tăng
cường hợp tác, mở rộng, đa dạng hóa hoạt động kinh doanh, và nâng cao khả năng
chống chịu của chuỗi cung ứng. Hai bên nhất trí hỗ trợ lẫn nhau tiếp cận thị
trường EU và ASEAN phù hợp với các nghĩa vụ hiện hành, bao gồm cả đối với công
nghệ, phương thức thực hành và sản phẩm xanh, thân thiện với môi trường, nhằm
hội nhập hiệu quả hơn vào các chuỗi cung ứng và chuỗi giá trị toàn cầu.
17. Hai bên khẳng định cam kết chung tổ chức luân phiên các kỳ họp
của Ủy ban liên Chính phủ về hợp tác kinh tế, thương mại, đầu tư và công nghệ
tại Việt Nam và Đan Mạch, nhằm tạo thuận lợi và tăng cường hơn nữa hợp tác
đầu tư và ODA, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thúc đẩy phát triển công nghệ
và chia sẻ tri thức, hỗ trợ Việt Nam chuyển dịch sang các chuỗi giá trị có
giá trị cao hơn, năng suất cao hơn và bền vững.
18. Hai bên hoan nghênh và nhất trí triển khai hiệu quả Hiệp định
Thương mại tự do Việt Nam-EU (EVFTA) và thúc đẩy các thành viên EU còn lại
phê chuẩn Hiệp định Bảo hộ đầu tư Việt Nam-EU (EVIPA), qua đó tiếp tục hỗ
trợ thương mại và đầu tư giữa hai nước.
Hợp tác khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo
và chuyển đổi số
19. Hai bên ghi nhận giá trị của hợp tác nghiên cứu và thúc đẩy
nghiên cứu chung trong các lĩnh vực cùng quan tâm trên cơ sở các khoản tài trợ
của Trung tâm Học bổng Danida cho các dự án nghiên cứu chung, Cơ chế hỗ trợ các
Mục tiêu phát triển bền vững của Đan Mạch và các cơ chế tài trợ nội bộ khác,
với trọng tâm là: (i) tiếp tục thúc đẩy hợp tác giữa các cơ sở, tổ chức trong
nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số;
hỗ trợ hợp tác giữa các tổ chức nghiên cứu khoa học-công nghệ, chia sẻ thông
tin và kinh nghiệm của Đan Mạch về thương mại hóa kết quả nghiên cứu, phát
triển vườn ươm công nghệ và hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo, chuyển
đổi số và chính phủ số, thành phố thông minh và các lĩnh vực cùng quan tâm
khác; (ii) tạo thuận lợi cho trao đổi sinh viên và nhà nghiên cứu giữa các cơ
sở theo các thỏa thuận hợp tác riêng của từng cơ sở và trong khuôn khổ các
khoản tài trợ của Trung tâm Học bổng Danida, nhằm hỗ trợ xây dựng các kỹ năng
cần thiết cho quá trình phát triển bền vững của Việt Nam.
Hợp tác quốc phòng, an ninh và tư pháp
20. Hai bên ghi nhận hòa bình, ổn định và an ninh là những điều kiện
thiết yếu cho tăng trưởng bền vững và chuyển đổi xanh; khẳng định quyết tâm đưa
an ninh và quốc phòng trở thành một cấu phần hữu cơ của quan hệ đối tác này
thông qua mở rộng đối thoại và hợp tác, trên tinh thần nâng cao khả năng chống
chịu và hướng tới tương lai, đồng thời nhận thức rằng an ninh trong khu vực Ấn
Độ Dương - Thái Bình Dương và châu Âu gắn bó không thể tách rời do tính chất
phụ thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế và bối cảnh địa chính trị rộng hơn.
21. Hai bên tập trung vào hợp tác quốc phòng và an ninh trong các
lĩnh vực ưu tiên chung thông qua: (i) thiết lập cơ chế đối thoại song phương về
an ninh hàng hải, với trọng tâm là nhận thức tình hình trên biển, tự do hàng
hải và ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống đối với an ninh hàng hải,
luật pháp và tiêu chuẩn quốc tế về hàng hải cũng như môi trường; (ii) ghi nhận
tầm quan trọng của việc thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực trong lĩnh vực
hàng hải. Về vấn đề này, Đan Mạch bày tỏ sẵn sàng hỗ trợ các nỗ lực của ASEAN
trong thúc đẩy kết nối hàng hải, an toàn và an ninh hàng hải.
22. Hai bên ghi nhận tầm quan trọng của Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN
như một nền tảng thúc đẩy hợp tác và đối thoại khu vực về an ninh hàng hải. Hai
bên sẽ ủng hộ tăng cường đối thoại trong khuôn khổ Diễn đàn Cảnh sát biển ASEAN
nhằm củng cố quản trị hàng hải, bảo vệ các nguồn tài nguyên biển và góp phần
duy trì ổn định trong không gian biển của Việt Nam.
23. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng công nhận tùy viên quốc
phòng thường trú hoặc không thường trú của nhau; qua đó tăng cường quan hệ quốc
phòng, bao gồm tạo điều kiện trao đổi, khi có thể, về chính sách an ninh và
quốc phòng và các thách thức an ninh khu vực tại châu Á và châu Âu trên các
lĩnh vực liên quan.
24. Hai bên nhất trí nghiên cứu tiếp tục đối thoại về: (i) chính
sách an ninh và quốc phòng, khi phù hợp, cũng như tăng cường hợp tác về các vấn
đề quốc phòng và an ninh mà hai bên cùng quan tâm, có thể bao gồm nhưng không
giới hạn ở các hoạt động gìn giữ hòa bình của Liên hợp quốc, các mối đe dọa phi
truyền thống và an ninh mạng; (ii) hợp tác, bao gồm cả hợp tác giữa EU và
Việt Nam trong đấu tranh chống các loại tội phạm như mua bán người, đưa
người di cư trái phép, tội phạm mạng, buôn bán ma túy xuyên biên giới, bóc lột
tình dục, cũng như ứng phó với các mối đe dọa phi truyền thống thông qua nghiên
cứu phát triển thêm các quy trình về di cư hợp pháp trong khuôn khổ pháp luật
hiện hành, cũng như các dịch vụ lãnh sự và cơ chế hợp tác pháp lý và lập pháp
nhằm nâng cao hiệu quả các hoạt động phối hợp trong các lĩnh vực này; (iii) đẩy
mạnh và củng cố hợp tác hiện có về tương trợ tư pháp, dẫn độ và chuyển giao
người bị kết án phạt tù.
Hợp tác thích ứng với biến đổi khí hậu và tăng
trưởng xanh
25. Hai bên nhất trí tiếp tục theo đuổi các mục tiêu đầy tham vọng
của Quan hệ Đối tác Chiến lược Xanh song phương trong khuôn khổ Đối tác Chiến
lược Toàn diện bằng cách tiếp tục tăng cường đối thoại chính sách và thúc đẩy
các hoạt động, sáng kiến cụ thể về khí hậu, an ninh năng lượng, bảo vệ môi
trường, phát triển bền vững và tăng trưởng xanh tại các diễn đàn song phương và
đa phương liên quan, bao gồm nhưng không giới hạn ở JETP, P4G, COP (Hội nghị
các Bên tham gia Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu -
UNFCCC), IMO và ASEM.
26. Hai bên cam kết tạo thuận lợi cho tăng trưởng xanh và bền vững
mạnh mẽ hơn tại Việt Nam thông qua thúc đẩy hợp tác nhằm: (i) giảm phát
thải carbon trong lĩnh vực năng lượng và tăng tỷ trọng năng lượng tái tạo thông
qua các Quy hoạch năng lượng quốc gia, Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia
và Quan hệ Đối tác Chuyển dịch Năng lượng Công bằng (JETP); và (ii) đẩy nhanh
triển khai các dự án năng lượng tái tạo.
27. Hai bên khẳng định ủng hộ cải cách các ngân hàng phát triển đa
phương nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tài chính khí hậu của các nước đang
phát triển (trong đó có Việt Nam) để ứng phó với biến đổi khí hậu, bất
bình đẳng kinh tế, các cuộc khủng hoảng môi trường và y tế. Việt Nam và
Đan Mạch cam kết thúc đẩy các khoản đầu tư xanh mang lại lợi ích cho cả hai bên
và có trách nhiệm với xã hội.
Hợp tác năng lượng
28. Hai bên coi trọng hợp tác năng lượng chiến lược, bao gồm nhưng
không giới hạn ở Chương trình Đối tác Năng lượng Đan Mạch-Việt Nam (DEPP),
đóng góp vào quá trình chuyển dịch năng lượng xanh công bằng tại Việt Nam
thông qua tạo điều kiện phát triển năng lượng sạch và thực hiện các mục tiêu
khí hậu dài hạn hướng tới một xã hội phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050, tập
trung vào quy hoạch hệ thống năng lượng, tích hợp năng lượng tái tạo, khử
các-bon và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng trong lĩnh vực công nghiệp.
29. Hai bên ủng hộ và sẵn sàng tạo thuận lợi, khi phù hợp, cho việc
thiết lập các quan hệ đối tác công-tư về tăng trưởng xanh giữa các doanh nghiệp
và tổ chức Đan Mạch và Việt Nam; thúc đẩy chia sẻ kinh nghiệm về phát
triển thể chế và chuyển giao công nghệ sạch, đào tạo, nâng cao năng lực và phát
triển nguồn nhân lực chất lượng cao cho Việt Nam, đặc biệt tập trung vào
sử dụng năng lượng hiệu quả, năng lượng tái tạo, quy hoạch điện và năng lượng,
công nghệ và giải pháp xanh và bảo vệ môi trường, trên cơ sở phối hợp chặt chẽ
với các bên liên quan như P4G.
Hợp tác giao thông vận tải và hàng hải
30. Hai bên nhất trí nghiên cứu khả năng hợp tác trong các lĩnh vực
vận tải biển, hàng không, đường bộ và đường sắt; thúc đẩy kết nối giao thông và
logistics; khuyến khích các hãng hàng không mở các đường bay thẳng giữa
Việt Nam và Đan Mạch, cũng như các địa điểm thuận lợi khác ở Bắc Âu phù
hợp với nhu cầu thị trường hiện tại và phù hợp với Hiệp định Toàn diện về Vận
tải Hàng không ASEAN-EU (AE-CATA) cũng như các quy định hiện hành.
31. Hai bên nhất trí khuyến khích hợp tác hàng hải, đặc biệt trong
các lĩnh vực thuộc phạm vi Quan hệ Đối tác Chiến lược Xanh song phương, bao
gồm: (i) chia sẻ kinh nghiệm, đào tạo và nâng cao năng lực; (ii) hàng hải xanh
và vận tải đường thủy xanh; (iii) an toàn và an ninh hàng hải; (iv) quản lý và
vận hành hệ thống cảng và logistics; (v) đóng tàu; (vi) giảm phát thải trong
các hoạt động hàng hải; (vii) nghiên cứu và ứng dụng công nghệ mới cho vận tải
biển, cũng như các lĩnh vực liên quan khác, khi phù hợp.
Hợp tác y tế và dược phẩm
32. Hai bên tái khẳng định cam kết tiếp tục hợp tác chiến lược ngành
trong lĩnh vực y tế nhằm củng cố hệ thống chăm sóc sức khỏe ban đầu tại
Việt Nam trong phòng ngừa, phát hiện, điều trị và quản lý các bệnh không
lây nhiễm, bao gồm tiểu đường và tăng huyết áp, thông qua xây dựng chính sách,
lập kế hoạch, hướng dẫn và các mô hình thí điểm ở cấp tỉnh và địa phương; đồng
thời nghiên cứu cơ hội hợp tác phòng ngừa và giảm thiểu tình trạng kháng thuốc
kháng vi sinh vật (AMR), bao gồm hợp tác với các tổ chức chủ chốt như Trung tâm
Quốc tế về Giải pháp Chống kháng thuốc (ICARS).
Hợp tác giáo dục-đào tạo, lao động
33. Hai bên đẩy mạnh hơn hợp tác giáo dục và đào tạo phục vụ thị
trường lao động, bao gồm hợp tác chiến lược ngành về giáo dục và đào tạo kỹ
thuật, nghề nghiệp (TVET), bao gồm cung ứng lao động và an toàn lao động, nhằm
đóng góp vào tăng trưởng bền vững, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao,
tăng cường liên kết hợp tác giữa các cơ sở đào tạo và trường học của hai bên,
và tăng số lượng học bổng dành cho Việt Nam.
Hợp tác nông nghiệp và tài nguyên thiên nhiên
34. Hai bên nhất trí tiếp tục thúc đẩy hợp tác, bao gồm tận dụng
hợp tác chiến lược ngành đang triển khai trong lĩnh vực nông nghiệp và an toàn
thực phẩm để đạt được các kết quả trong và ngoài phạm vi dự án. Hợp tác sẽ được
triển khai trong các lĩnh vực nâng cao năng lực quản lý nhà nước, khuôn khổ
pháp lý cho sản xuất thực phẩm bền vững, nâng cao an toàn thực phẩm và thức ăn
chăn nuôi, giảm thất thoát và lãng phí thực phẩm, ghi nhãn hữu cơ do
Nhà nước kiểm soát, thúc đẩy nông nghiệp xanh và chia sẻ thông tin trong
các lĩnh vực như nông nghiệp, sản xuất thực phẩm, bao gồm khai thác và nuôi
trồng thủy sản.
Hợp tác về thống kê
35. Hai bên khuyến khích hợp tác chiến lược ngành đang được triển
khai trong lĩnh vực thống kê nhằm hỗ trợ Việt Nam phát triển dữ liệu và
thống kê chất lượng cao, đặc biệt là hợp tác giữa Cơ quan Thống kê Đan Mạch và
Cơ quan Thống kê Quốc gia Việt Nam, tập trung vào cải thiện khả năng tiếp
cận và sử dụng dữ liệu hành chính thông qua số hóa và tích hợp dữ liệu, tăng
cường sản xuất, truyền thông và phổ biến số liệu thống kê, nghiên cứu việc sử dụng
các nguồn dữ liệu mới và mới nổi cho thống kê chính thức và phát triển các tài
khoản môi trường - kinh tế phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế nhằm hỗ trợ việc
ra quyết định dựa trên bằng chứng và theo dõi các mục tiêu chuyển đổi xanh quốc
gia.
Giao lưu nhân dân và hợp tác giữa chính quyền
địa phương
36. Hai bên ghi nhận chính quyền địa phương và các cơ quan cấp dưới
trung ương là một kênh quan trọng để triển khai quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn
diện và thúc đẩy quan hệ song phương sâu sắc hơn, thực chất hơn và có nền tảng
rộng hơn.
37. Hai bên ghi nhận và cam kết thúc đẩy hơn nữa mối liên kết ngày
càng chặt chẽ giữa nhân dân hai nước thông qua nhiều hoạt động kinh doanh, địa
phương, hiệp hội, xã hội và nghề nghiệp nhằm thu hút đầu tư, thúc đẩy thương
mại và chia sẻ kinh nghiệm.
38. Hai bên sẽ tiếp tục tăng cường trao đổi và hợp tác trong lĩnh
vực văn hóa; khuyến khích hợp tác trực tiếp giữa các tổ chức văn hóa Đan Mạch
và Việt Nam trên cơ sở lợi ích chuyên môn chung và cam kết lâu dài, đồng
thời thúc đẩy quan hệ giao lưu nhân dân.
39. Hai bên sẽ thúc đẩy hợp tác giữa chính quyền địa phương và các
cơ quan cấp dưới trung ương, bao gồm trao đổi đoàn, thiết lập quan hệ đối tác
giữa các tỉnh, thành phố và chia sẻ thông lệ hiệu quả nhất trong quản trị địa
phương, cải cách hành chính và cung cấp dịch vụ công.
40. Hai bên sẽ khuyến khích chính quyền địa phương xây dựng các
chương trình, dự án hợp tác và sáng kiến thí điểm cụ thể trong các lĩnh vực phù
hợp với các ưu tiên của hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện, bao gồm phát triển đô
thị xanh và bền vững, chuyển đổi năng lượng, năng lượng tái tạo, giao thông
xanh, kinh tế tuần hoàn, thích ứng với biến đổi khí hậu, chuyển đổi số, nông
nghiệp bền vững, y tế, giáo dục, văn hóa và du lịch.
41. Hai bên tái khẳng định nghĩa vụ theo luật pháp quốc tế về việc
tiếp nhận lại công dân của mình trên tinh thần thiện chí và không trì hoãn bất
hợp lý, đồng thời cam kết tích cực hợp tác về các phương thức thực tiễn nhằm
kịp thời xác định danh tính, cấp giấy tờ đi lại và hồi hương cho những công dân
này.
Các điều khoản cuối cùng
42. Trên cơ sở Tuyên bố chung này, hai bên sẽ xây dựng các kế hoạch
hành động để triển khai chung, bảo đảm công tác thực hiện hiệu quả.
43. Tuyên bố chung này có hiệu lực kể từ ngày được hai bên thông
qua.
Thông qua tại Copenhagen ngày 20 tháng 10 năm
2026, gồm hai văn bản bằng tiếng Anh và tiếng Việt, cả hai văn bản đều có giá
trị như nhau.
-Dẫn theo Cổng thông
tin điện tử Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam-
Nguồn bài viết: Cổng Thông tin điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
HẠNH NGUYÊN/NDO