Gánh nặng chăm sóc không lương và mức sinh ở Việt Nam từ góc nhìn giới
Đây là chủ đề tham luận của PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam tại Hội thảo khoa học “Tỷ suất sinh thấp dưới góc nhìn giới và tái sản xuất xã hội: Đối thoại từ những góc nhìn chuyên gia” được Khoa Giới và Phát triển, Học viện Phụ nữ Việt Nam tổ chức ngày 01/10/2026.
PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin Khoa học xã hội
trình bày tham luận tại Hội thảo
Hội
thảo là diễn đàn học thuật quy tụ các chuyên gia, nhà nghiên cứu và đông đảo giảng
viên, sinh viên nhằm nhận diện tỷ suất sinh thấp như một vấn đề giới và tái sản
xuất xã hội, thay vì chỉ là bài toán dân số thuần túy; từ đó làm rõ gánh nặng
chăm sóc không lương đang đè nặng lên phụ nữ và đề xuất chuyển dịch chính sách
sang phát triển nền kinh tế chăm sóc nhằm giảm chi phí nuôi dạy con kéo dài, tạo
giải pháp bền vững cho mức sinh tại Việt Nam.
Điểm
nhấn nổi bật của Hội thảo là ba tham luận chuyên sâu từ các nhà khoa học uy
tín, mang đến những lăng kính đa chiều về bài toán mức sinh thấp hiện nay.
Quang cảnh Hội thảo
Trình
bày tham luận tại Hội thảo, PGS.TS. Trần Thị Minh Thi cho thấy mức sinh ở Việt
Nam đang có xu hướng giảm nhanh và phân hóa rõ rệt theo vùng miền. Tổng tỷ suất
sinh TFR giảm từ 2,33 con/phụ nữ năm 1999 xuống 1,93 con năm 2025. Trong bối cảnh
đó, lao động chăm sóc không lương vẫn mang dấu ấn giới rất rõ nét khi phụ nữ tiếp
tục gánh vác phần lớn công việc nhà và chăm sóc gia đình.
Theo
số liệu năm 2024, phụ nữ dành trung bình 2 giờ 55 phút mỗi ngày cho nội trợ, việc
nhà (gấp 1,97 lần nam giới) và 1 giờ 12 phút cho công việc chăm sóc (gấp 1,76 lần
nam giới). Tỷ lệ trẻ dưới 36 tháng tuổi đến nhà trẻ còn rất hạn chế (chỉ đạt
17,6% trong giai đoạn 2019-2020), làm gia tăng gánh nặng tự chăm sóc của các hộ
gia đình. Kết quả phân tích các yếu tố liên quan đến số con của phụ nữ dựa trên
quy mô mẫu N=3.274 cho thấy tuổi kết hôn muộn, trình độ học vấn cao và nơi cư
trú tại đô thị/vùng có mức sinh thấp (như Đông Nam Bộ, Đồng bằng sông Cửu Long)
có mối liên hệ âm rõ rệt với số con.
Các chuyên gia tại Phiên thảo luận:
TS. Trương Thúy Hằng, PGS.TS. Trần
Thị Minh Thi,
TS. Phạm Thị Thu Phương, TS.
Phạm Ngọc Toàn
Từ
thực trạng bất bình đẳng về thời gian làm việc nhà, những thách thức từ hệ thống
dịch vụ chăm sóc và các số liệu nêu trên, PGS.TS. Trần Thị Minh Thi nhấn mạnh rằng,
chính sách dân số không nên chỉ dừng lại ở việc khuyến sinh hay hỗ trợ tại thời
điểm sinh con, mà cần hướng tới việc giảm thiểu chi phí chăm sóc kéo dài sau
sinh thông qua chia sẻ trách nhiệm giới và phát triển hệ thống hỗ trợ xã hội.
Bên
cạnh bài tham luận của PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Hội thảo cũng nghe các báo
cáo chuyên sâu khác. TS. Phạm Thị Thu Phương, Tổng Biên tập, Viện Địa lý nhân
văn và Phát triển bền vững, Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam trình bày
tham luận “Tỷ suất sinh thấp dưới lăng kính lý thuyết tái sản xuất xã hội và chi
phí cơ hội: Khung phân tích và bối cảnh”, cung cấp khung tiếp cận lý thuyết
giúp nhìn nhận tỷ suất sinh thấp từ cấu trúc chi phí cơ hội và tái sản xuất xã
hội. TS. Phạm Ngọc Toàn, Giám đốc Trung tâm Thông tin, Phân tích Dự báo Chiến
lược và Dịch vụ công, Viện Khoa học Tổ chức và Lao động, Bộ Nội vụ trình bày
tham luận “Phát triển nền kinh tế chăm sóc và chính sách đáp ứng giới: Giải
pháp bền vững cho bài toán tỷ suất sinh thấp”, gợi mở các hướng đi chính sách
phát triển kinh tế chăm sóc nhằm ứng phó với mức sinh thấp.
PGS.TS. Trần Thị Minh Thi và các đại biểu tham dự Hội thảo
chụp ảnh lưu niệm
Chủ
đề hội thảo và nội dung các tham luận đã nhận được nhiều ý trao đổi, đối thoại,
thảo luận sôi nổi. Hội thảo đã tiếp cận đa dạng lý thuyết, mở ra góc nhìn đa
chiều, góp phần lan tỏa thông điệp mạnh mẽ: giải quyết bài toán tỷ suất sinh thấp
không thể tách rời việc chia sẻ trách nhiệm chăm sóc gia đình và hoàn thiện hệ
thống an sinh xã hội đáp ứng giới.
Toàn
bộ các tham luận và ý kiến đóng góp tại Hội thảo sẽ được tổng hợp trong Kỷ yếu hội
thảo, góp phần lưu giữ, lan tỏa tri thức và cung cấp thêm luận cứ khoa học thực
tiễn cho công tác hoạch định chính sách dân số, bình đẳng giới tại Việt Nam
trong giai đoạn tới.
-VTT
tổng hợp-