THỐNG KÊ TRUY CẬP
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tháng: 1
  • Tất cả: 1
Viện Thông tin Khoa học xã hội tổ chức hội đồng nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026 trong lĩnh vực văn hóa học và xã hội học
Chiều ngày 23/10/2026, tại trụ sở số 1 Liễu Giai, Ngọc Hà, Hà Nội, Viện Thông tin Khoa học xã hội (KHXH) đã tổ chức hội đồng nghiệm thu các nhiệm vụ khoa học và công nghệ cấp cơ sở năm 2026 do ThS. Bùi Thị Minh Phượng, ThS. Lại Thị Thanh Bình và ThS. Nguyễn Thị Thu Nguyệt làm chủ nhiệm.
Anh-tin-bai

PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin KHXH,

Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu phát biểu tại buổi làm việc

 

Tham dự buổi làm việc có Bộ phận Quản lý khoa học và Hợp tác quốc tế, Phòng Hành chính - Tổng hợp; các chủ nhiệm nhiệm vụ; cùng toàn thể viên chức Khối Nghiên cứu, thông tin khoa học của Viện Thông tin KHXH.

 

Hội đồng nghiệm thu do PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Phó Viện trưởng Viện Thông tin KHXH làm Chủ tịch Hội đồng.

 

Các chuyên gia phản biện, thành viên Hội đồng gồm: GS.TS. Nguyễn Hữu Minh (nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Gia đình và Giới, Chủ tịch Hội Xã hội học Việt Nam ); PGS.TS. Bùi Thanh Thủy (Đại học Văn hóa Hà Nội); PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Châm (Viện Nghiên cứu Văn hóa); TS. Đỗ Văn Quân (Viện Kinh tế - Xã hội và Môi trường, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh); PGS.TS. Nguyễn Duy Lợi, TS. Trương Thị Thu Trang, TS. Lương Thị Thu Trang (Viện Thông tin KHXH).

 

Tổng quan nghiên cứu về phát triển du lịch cộng đồng ở một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam

 

Theo đánh giá của Hội đồng nghiệm thu, nhiệm vụ do ThS. Bùi Thị Minh Phượng (Phòng Nghiên cứu, Thông tin Khoa học nhân văn) làm chủ nhiệm đã đáp ứng mục tiêu đặt ra là tổng quan, hệ thống hóa và cung cấp thông tin về phát triển du lịch cộng đồng ở một số quốc gia trên thế giới (Trung Quốc, Thái Lan, Nhật Bản) và Việt Nam, nhằm gợi mở phát triển các mô hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam.

 

Kết quả tổng quan cho thấy du lịch cộng đồng có khả năng tạo việc làm, đa dạng hóa sinh kế, phát huy giá trị văn hóa và tăng cường năng lực của cư dân địa phương. Tuy nhiên, những đóng góp này phụ thuộc vào cách thức tổ chức, quyền tham gia quyết định, cơ chế phân phối lợi ích và khả năng kiểm soát tác động trong quá trình phát triển. Kinh nghiệm quốc tế được nhiệm vụ tổng quan đã cung cấp những bằng chứng về vai trò của tổ chức và quản trị đối với phát triển du lịch cộng đồng. Đối với Việt Nam, tổng quan các tài liệu cho thấy sự đa dạng ngày càng rõ nét của du lịch cộng đồng, gắn với văn hóa tộc người, di sản làng, nghề thủ công, nông nghiệp, sinh thái và đời sống sông nước. Sự quan tâm của chính sách và việc hình thành các ban quản lý, tổ hợp tác, hợp tác xã hoặc mạng lưới hộ đã tạo thêm điều kiện cho người dân tham gia. Tuy vậy, quá trình phát triển còn bộc lộ những hạn chế về năng lực quản trị, chất lượng sản phẩm, liên kết thị trường, hạ tầng môi trường và phân phối lợi ích.

 

Theo chủ nhiệm nhiệm vụ và nhóm nghiên cứu, việc phát triển các mô hình du lịch cộng đồng ở Việt Nam cần đồng thời giải quyết mối quan hệ giữa chính sách hỗ trợ, tổ chức cộng đồng và thị trường. Chính sách cần gắn đầu tư với trách nhiệm vận hành, bảo trì và kết quả thụ hưởng; ưu tiên hạ tầng dùng chung, nâng cao năng lực và mở rộng cơ hội cho những hộ ít nguồn lực. Nhiệm vụ được Hội đồng nghiệm thu thống nhất cho điểm Khá.

 

Anh-tin-bai
Anh-tin-bai

Quang cảnh buổi nghiệm thu các nhiệm vụ

 

Tổng quan nghiên cứu về hợp tác công tư trong lĩnh vực di sản văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam

 

Nhiệm vụ do ThS. Lại Thị Thanh Bình (Phòng Nghiên cứu, Thông tin Khoa học nhân văn) làm chủ nhiệm tập trung tổng quan, hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn về hợp tác công tư (PPP) trong lĩnh vực di sản văn hóa trên thế giới và ở Việt Nam. Trên cơ sở phân tích các công trình khoa học, chính sách và kinh nghiệm thực tiễn tại Anh, Singapore và Trung Quốc, nhiệm vụ làm rõ những đặc điểm, hình thức và cơ chế hợp tác giữa Nhà nước, khu vực tư nhân và các chủ thể liên quan trong bảo tồn, quản lý và phát huy giá trị di sản. Đồng thời, nhiệm vụ cũng thực hiện đánh giá thực trạng, nhận diện những vấn đề đặt ra đối với việc phát triển PPP trong lĩnh vực di sản văn hóa tại Việt Nam. Từ đó, đề xuất một số định hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế, chính sách, huy động hiệu quả các nguồn lực xã hội, góp phần bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa gắn với phát triển bền vững.

 

Kết quả tổng quan cho thấy, PPP có thể trở thành một phương thức bổ sung nguồn lực và năng lực cho bảo tồn, phát huy giá trị di sản văn hóa, nhưng không phải là giải pháp phù hợp cho mọi loại hình di sản và không thể thay thế trách nhiệm của Nhà nước. Giá trị tham khảo của kinh nghiệm quốc tế nằm ở sự đa dạng của các hình thức hợp tác, công cụ hỗ trợ và phương thức quản trị, cũng như khả năng điều khiển chúng theo những điều kiện cụ thể. Đối với Việt Nam, phát triển PPP cần được đặt trong yêu cầu bảo tồn và phát huy bền vững giá trị di sản, bảo đảm lợi ích công cộng và sự tham gia của cộng đồng. Trong bối cảnh phát triển kinh tế di sản và công nghiệp văn hóa đang trở thành những định hướng quan trọng, PPP cần được xem là một trong những phương thức huy động và sử dụng hiệu quả nguồn lực xã hội, góp phần phát huy giá trị di sản phục vụ phát triển mà không làm suy giảm những giá trị văn hóa, lịch sử và xã hội vốn có. Kết quả nghiệm thu của nhiệm vụ đạt loại Khá theo kết luận của Hội đồng.

 

Tổng quan nghiên cứu về xu hướng tính dục mới trên thế giới và hàm ý đối với Việt Nam

 

Nhiệm vụ của ThS. Nguyễn Thị Thu Nguyệt (Phòng Nghiên cứu, Thông tin KHXH) được Hội đồng nghiệm thu đánh giá Xuất sắc đối với kết quả hệ thống hóa và phân tích các công trình nghiên cứu quốc tế về sự đa dạng xu hướng tính dục, những chuyển biến trong nhận thức xã hội và các vấn đề đặt ra đối với cộng đồng LGBTQ (cộng đồng những người có xu hướng tính dục, bản dạng giới hoặc đặc điểm sinh học khác biệt với nhóm đa số dị tính và hợp giới) trong bối cảnh toàn cầu hóa và phát triển công nghệ.

 

Trên cơ sở tổng quan tài liệu thứ cấp, nhiệm vụ làm rõ các khái niệm, cách tiếp cận lý thuyết và sự khác biệt giữa xu hướng tính dục, bản dạng giới, biểu hiện giới và đặc điểm giới tính. Cụm từ “xu hướng tính dục mới” trong nhiệm vụ không có nghĩa là xu hướng tính dục mới xuất hiện. Ngoài hàm ý phân biệt với xu hướng tính dục dị tính vốn từ lâu được mặc định là chuẩn mực xã hội duy nhất, từ “Mới” ở đây là phạm trù tự định danh mà ngày càng nhiều người có xu hướng tính dục phi truyền thống dám gọi tên trải nghiệm của mình và dần nhận được sự đồng thuận từ xã hội.

 

Nhiệm vụ tiến hành tổng hợp các bằng chứng khoa học, phân tích làm rõ những yếu tố sinh học, tâm lý và phát triển liên quan đến sự hình thành xu hướng tính dục; tính đa chiều, tương đối ổn định và khả năng linh hoạt trong trải nghiệm tính dục của con người. Nhiệm vụ cũng chỉ ra sự gia tăng nhưng không đồng đều của mức độ chấp nhận xã hội, cùng những tranh luận về chính trị, tôn giáo, văn hóa và gia đình, qua đó nhận diện các cơ chế duy trì định kiến, kỳ thị và phân biệt đối xử. Một nội dung trọng tâm khác của nhiệm vụ là phân tích tác động hai mặt của công nghệ số đối với nhóm LGBTQ ở cấp độ cá nhân, cộng đồng và cấu trúc xã hội. Bên cạnh khả năng hỗ trợ nhận diện bản thân, kết nối cộng đồng và tiếp cận dịch vụ, công nghệ còn đặt ra những thách thức về sức khỏe tinh thần, quyền riêng tư và bất bình đẳng. Nhiệm vụ đồng thời xem xét những chuyển biến tích cực và tiêu cực trong đời sống của người LGBTQ trên ba phương diện: văn hóa - xã hội, sức khỏe và pháp lý.

 

Từ những phát hiện trên, từ những bài học kinh nghiệm quốc tế, nhiệm vụ gợi mở các định hướng chính sách cho Việt Nam như tập trung nâng cao nhận thức, giảm kỳ thị, bảo vệ quyền, cải thiện dịch vụ hỗ trợ và tăng cường nghiên cứu khoa học, hướng tới một môi trường xã hội tôn trọng sự đa dạng và bảo đảm cơ hội bình đẳng cho mọi cá nhân.

 

Tại buổi làm việc, Hội đồng nghiệm thu đã ghi nhận sự nỗ lực và những kết quả đạt được của các chủ nhiệm và nhóm nghiên cứu. Đồng thời, các thành viên Hội đồng đã thẳng thắn đóng góp nhiều ý kiến phản biện thiết thực, giúp chỉnh sửa thể thức và nội dung chuyên môn, nâng cao hơn nữa chất lượng khoa học, tính tra cứu và giá trị tham khảo của các báo cáo tổng quan.

 

Phát biểu kết luận buổi làm việc, thay mặt Viện Thông tin KHXH, PGS.TS. Trần Thị Minh Thi, Chủ tịch Hội đồng nghiệm thu trân trọng cảm ơn những ý kiến đóng góp tâm huyết, khách quan và giàu chuyên môn từ các chuyên gia, nhà khoa học. Chủ tịch Hội đồng yêu cầu các chủ nhiệm nhiệm vụ nghiêm túc tiếp thu, hoàn thiện báo cáo tổng kết theo đúng kết luận của Hội đồng trước khi nộp sản phẩm chính thức theo quy định.

 

 

-VTT-

 

 

Tin nổi bật
Thống kê truy cập
  • Đang online: 1
  • Hôm nay: 1
  • Trong tuần: 1
  • Tất cả: 1